- Mod (giải mã), chuyển hệ, up-downgrade firmware Wii (4.2k, 4.3J). - Nintendo 3DS vừa ra lò, vứt kính đi thôi - Sửa Chữa XBox360 - 3 Đèn Đỏ - Sửa chữa Wii báo lỗi Error:003
Liên kết Webs
Các hệ máy GAMES
Hỗ trợ trực tuyến

Bán hàng

Kỹ thuật

Quản lý
Ý kiến khách hàng
tra loi: gokugtz - (07/08/2010)
Ratchet & Clank banr nay dat thi co nhung ly do sau thu nh
hỏi về máy xbox 360: tung - (02/08/2010)
Máy xbox 360 khi cho đĩa game vào và ấn play thì hi
máy psp3k giá được đấy: Nguyên Bình PSP - (22/07/2010)
tôi ở ninh bình, qua tìm hiểu trên mạng thấy r
Tôi muốn mua con này lắm nhưng nghe nói nó hay bị
Bình chọn của khách hàng
Bạn biết Xgame từ đâu
Tạp chí Game giấy
Tạp chí Game điện tử
Google Search
Bạn bè giới thiệu
 
Số người đã tham gia : 19

Giới thiệu máy GameBoy


null

null

- Game Boy là một hệ máy videogame cầm tay được phát triển và sản xuất bởi Nintendo, phát hành vào năm 1989 với giá $89.95 US. Do lạm phát, giá bán này tương đương với $147.83 vào năm 2006. Game Boy là hệ máy đánh dấu bước khởi đầu cho toàn bộ dòng Game Boy. Những chiếc Game Boy gốc được bán kèm với game giải đố Tetris.

null

Technical information

- CPU: nhân 8-bit Sharp x80 4.19 MHz tương tự với nhân Intel8080.
- RAM: 8 kbyte internal S-RAM
- RAM hiển thị: 8 kbyte internal
- ROM: On-CPU-Die 256-byte; băng 256 kbit, 512 kbit, 1 Mbit, 2 Mbit and 4 Mbit and 8 Mbit
- Sound: 2 Square Waves, 1 32-sample 4-bit PCM Wave, 1 White noise. Hệ máy chỉ có một chiếc loa, nhưng headphone cho phép chơi nhạc stereo.
- Hiển thị: Reflective LCD 160 × 144 pixel
- Kích thước màn hình: 66 mm (2.6 in) chiều xéo
- Bảng màu: 4 loại màu trong bảng “gray” (từ xanh lá đến xanh lá đen)
- Liên lạc: đến 4 Game Boy có thể kết nối với nhau thông qua lỗ cắm.
- Pin: 6 V, 0.7 W (4 pin AA cung cấp khoảng 35 giờ chơi)
- Kích thước: 90 mm(W) × 148 mm(H) × 32 mm(D)/3.5 × 5.8 × 1.3 (in)

null

Controls

- Điều khiển chính của Game Boy nằm ở phần dưới mặt trước. Cũng tương tự như tay cầm NES, Game Boy có bốn nút “A”, “B”, “SELECT”, & “START”. Chức năng của các nút bấm thay đổi tùy game, nhưng thông dụng thì START dùng để dừng game & bắt đầu game. Game Boy cũng có một D-Pad, cho phép điều khiển chuyển động tám hướng trong game.

null

- Ngoài các nút sử dụng trong game, còn có một nút chỉnh âm lượng bên cạnh phải của hệ máy, và một nút chỉnh sáng tối ở cạnh phải. Cần gạt bật/tắt hệ máy nằm ở trên cùng.

Input & Output

- Nơi lắp pin nằm bên trái hệ máy. Một adapter sạc pin bán kèm hệ máy nhận được nguồn điện 110V & 230V. Game Boy cần ít nhất 6V DC hoặc tối thiểu 250mA.
- Cổng cắm dây nối, ở bên phải hệ máy. Nó được dùng để kết nối nhiều hệ máy Game Boy lại với nhau, và chuyển đổi dữ liệu giữa hai game. Ứng dụng này rất hay được sử dụng trong Pokémon. Cổng này cũng có thể dùng để kết nối với Game Boy Printer.

null

- Một cổng dành cho jack cắm headphone 3.5mm stereo nằm ở cạnh dưới hệ máy.
- Một khe cắm băng Game Boy(còn được gọi Game Pak) nằm ở trên cùng hệ máy.

Games

null

- Một trong những game bán chạy nhất trên Game Boy là Tetris, với 33 triệu bản đã bán ra, và là một ví dụ điển hình cho “biểu tượng”. Tetris được bán kèm với Game Boy và người tiêu dùng thời đó thường mua Game Boy chỉ để chơi Tetris.
- Game cuối cùng ra mắt trên thị trường dành cho hệ máy là Pokémon Yellow vào năm 1999; dù rằng đã có vô số game được phát hành vài năm sau dành cho hậu bối của hệ máy, Game Boy Color, thì những game này vẫn hoạt động tốt trên Game Boy. Game cuối cùng dành cho Game Boy Color nhưng vẫn tích hợp với Game Boy là From TV Animation - One Piece: Maboroshi no Grand Line Boukenki!, ra mắt vào tháng 6 năm 2002 tại Nhật.

Versions

- Ngoài Game Boy được phát hành tại Nhật vào ngày 21 tháng 4 năm 1989, Game Boy còn có những phiên bản sau đây:

null

- Vào năm 1995, Nintendo cho ra mắt một vài mẫu Game Boy với vỏ máy nhiều màu khác nhau, đặt tên chúng là “Play It Loud!”. Thông số kĩ thuật của chiếc máy này hoàn toàn y hệt với Game Boy. Ý tưởng sản xuất ra hệ máy với nhiều màu khác nhau đã được ứng dụng cho toàn bộ các hệ máy sau này của Nintendo. Hệ máy đã được sản xuất ra với các màu đỏ, vàng, xanh lá, đen, xanh dương, trắng và trong suốt. Ngoài ra còn có một phiên bản Manchester United hiếm thấy, số lượng có hạn với màu đỏ, và có in logo của đội bóng này trên vỏ máy–được phát hành cùng thời gian với Play it Loud! tại Anh.

null

Vào năm 1996, Nintendo đã cho phép Game Boy Pocket xuất hiện : nhỏ hơn, nhẹ hơn và ít tốn pin hơn. Hệ máy sử dụng hai pin AAA, sử dụng được 10 tiếng chơi game. Hệ máy có một cổng nối nhỏ hơn các cổng nối thông thường, khiến việc kết nối tới các máy Game Boy cũ hơn phải thông qua một adapter chuyển đổi. Màn hình hiển thị được cải tiến thành đen trắng thực sự, khác với Game Boy. Phiên bản đầu tiên có màu bạc, không có đèn báo pin. Do đòi hỏi của người tiêu dùng, các phiên bản sau của hệ máy được thêm vào đèn này và có màu khác đi. Ngoài ra còn có một số phiên bản đặc biệt số lượng có hạn của Game Boy Pocket như Băng Xanh màu thép và Hồng Quyến Rũ chỉ có tại Nhật.

null

- Game Boy Light chỉ xuất hiện tại Nhật, vào năm 1997. Hệ máy có cùng kích thước với Game Boy Pocket và có thêm một đèn hậu màn hình. Hệ máy sử dụng 2 pin AA, dùng được khoảng 20 giờ chơi tắt đèn và 12 giờ chơi bật đèn. Game Boy Light từng được xem như là hệ máy Game Boy hiếm thấy nhất trên thị trường ngoài nước Nhật, nhưng nhờ vào Internet và các cửa hàng đấu giá online, hệ máy đã thân thiện với người tiêu dùng hơn. Game Boy Light trở thành hệ máy duy nhất của Nintendo có được màn hình sáng cho đến tận khi Game Boy Advance SP ra đời năm 2003.

null

 

________________________________________________________

null

null

- Game Boy Color là phiên bản handheld tiếp theo của Nintendo tiếp bước cho hệ máy Game Boy; được phát hành vào ngày 21 tháng 10 năm 1998 tại Nhật, tháng 11 năm 1998 tại Mĩ, và vào năm 1999 tại Châu Âu. Hệ máy mang một màn hình màu kích thước cao hơn và dày hơn Game Boy Pocket, nhưng lại nhỏ hơn chiếc Game Boy gốc.

- Game Boy Color là câu trả lời của Nintendo dành cho các nhà phát triển game khi họ yêu cầu một hệ máy videogame tinh vi hơn, vì họ thấy rằng Game Boy, dù rằng với phiên bản mới nhất, Game Boy Pocket, thì vẫn là chưa đủ. Sản phẩm mới có khả năng tương thích ngược, một khả năng mới thấy lần đầu ở một hệ máy handheld console, nâng cao thư viện game khổng lồ của hệ máy từ những tiền bối. Đặc điểm này của Game Boy Color đã trở thành một sức mạnh không thể thiếu cho các hệ máy Game Boy sau này, khi mà mỗi khi một game mới được phát hành, thì thư viện game của các hệ máy Game Boy lại càng đồ sộ hơn so với các kình địch.

- Cho đến ngày 31 tháng 3 năm 2005, Game Boy và Game Boy Color cộng lại đã bán được 118,69 triệu máy trên toàn thế giới. Dòng Game Boy đã trở thành một dòng máy videogame cầm tay được ưa chuộng mãi cho đến tận sau này khi Nintendo DS xuất hiện.

null

Specifications

- CPU là một chip tương đồng với Z80, được sản xuất bởi Sharp, thêm một số tính năng mới, tốc độ gấp đôi so với con chip của chiếc Game Boy gốc.
- Bộ nhớ của Game Boy Color gấp 4 lần so với hệ máy đầu tiên(32 kilobyte system RAM, 16 kilobyte video RAM). Thêm vào đó, ROM của Game Boy Color cũng được mở rộng, cho phép tương thích với các game lớn gấp 8 lần game dành cho Game Boy.
- Game Boy Color còn có một cổng hồng ngoại dành cho kết nối không dây. Tuy vậy nhưng tính năng này chỉ tương thích với một vài game, vì vậy mà cổng hồng ngoại này đã không xuất hiện trên Game Boy Advance và các hệ máy sau.
- Hệ máy có khả năng hiển thị 56 màu khác nhau cùng một lúc trong bảng màu 32,768 màu, và thêm 4 màu khác nhau cho các game Game Boy.

null

- Các game Game Boy Color nằm trong một băng game trong suốt có gờ. Nintendo cũng đã sản xuất ra băng đen đọc được trên Game Boy Color, Super Game Boy cũ và Game Boy gốc. Màu đen nhằm phân biệt sự khác nhau giữa những băng này với các băng xám Game Boy và băng trong suốt Game Boy Color. Các băng đen cũng có khía như các băng Game Boy cũ, cho phép các hệ máy Game Boy tự động bật lên khi cắm băng vào, trong khi các băng Game Boy Color không có đặc tính đó. Các băng đen có bảng màu đặc biệt không thể thay đổi cho Game Boy Color. Các băng Pokémon Game Boy Color là trường hợp đặc biệt có nhiều màu khác nhau.

null

- Khi chơi game Game Boy gốc trên các hệ máy sau này, người sử dụng có thể chọn bảng màu hiển thị. Chỉ cần nhấn A hoặc B và nút điều khiển khi logo Game Boy đang hiển thị trên màn hình. Kiểu màu ngược là B+Left. Thêm vào đó, hầu hết các game Game Boy được phát hành bởi Nintendo có một bảng màu mặc định hiển thị khi không nhấn nút nào để chỉnh màu. Bất kì game nào không có bảng hiển thị mặc định sẽ có màu Xanh lá đen(Right+A)

Accessories

null

- Game Boy Battery Pack(còn gọi AC Adapter), bán với giá $30 USD, dài 3in, rộng 2in, và dày 0.5in. Một đầu nó có dây dài 2in, kết thúc bằng một đầu cắm 3.5mm. Sản phẩm sử dụng pin nickel-cadmium, mỗi lần sạc dùng được 4-5 tiếng, và có thể vẫn giữ được hiệu quả cho đến lần sạc thứ 1000. Điểm trừ cho phụ kiện là trọng lượng, lẫn cách mà đầu cắm gây vướng víu.

null

- Game Link Cable cho phép kết nối dữ liệu giữa hai Game Boy.

null

null

- Ra đời vào năm 1998, Game Boy Camera có khả năng chụp ảnh, cho phép in ra sử dụng Game Boy Printer. Các bức ảnh chụp được là trắng đen, và độ phân giải chỉ là 128×123. Cả Game Boy Camera và Game Boy Printer đều đã ra mắt cùng nhau tại Nhật, Mĩ, Châu Âu, thu hút thị hiếu của trẻ em.

null

- Có cùng thời gian ra mắt với Game Boy Camera, Game Boy Printer là một máy in nhiệt, sử dụng 6 pin AA. Ngoài chức năng chính in hình, nó còn có thể được sử dụng cho nhiều mục đích trong vài game Game Boy, như The Legend of Zelda: Link’s Awakening DX & Pokémon Yellow.

null

- Work Boy là một phụ kiện chưa bao giờ ra mắt mọi người. Nó có một bàn phím mini nối vào hệ máy thông qua cable. Băng Work Boy mang các chương trình như đồng hồ, lịch, chuyển đổi đơn vị, và danh bạ điện thoại. Phụ kiện này được nhắc đến trong tờ 36 (tháng 5 năm 1992) tạp chí Nintendo Power.

null


________________________________________________________

null

null

video game 32-bit, được thiết kế, sản xuất ra và bày bán trên thị trường bởi Nintendo. Chiếc máy này là người kế thừa cho hệ máy nổi tiếng Game Boy Color. Nó được phát hành tại Nhật vào ngày 21 tháng 3 năm 2001; tại Bắc Mĩ vào ngày 11 tháng 6 năm 2001; Úc vào ngày 22 tháng 6 năm 2001;Châu Âu là 22 tháng 6 năm 2001; và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Quốc vào ngày 8 tháng 6 năm 2004 (không tính Hồng Kông).

- Vào năm 2996, các tạp chí kể cả tập san thứ 53 và 54 của tờ Total! và tờ tháng 7 năm 1996 của Game Informer đã đồng lọat đăng tin về hệ máy Game Boy mới, với cái tên mã Project Atlantis. Mặc dù ngày dự kiến phát hành so với thời điểm “trước 1997″ khiến nhiều người lầm tưởng hệ máy mới này là một chiếc Game Boy Color, mô tả của hệ máy mới đã rõ ràng với “một chip xử lí 32-bit RISC” và “mang những game có hình dáng lẫn nội dung ngang ngửa với SNES vào trong tay bạn” - những mô tả này đã rất chính xác, nếu nói về Game Boy Advance.

- Vào ngày 1 tháng 12 năm 2006, Nintendo of America đã thông báo một bản cập nhật thông tin nói rằng Game Boy Advance đã bán được 33,63 triệu máy tại Mĩ. Tính tới ngày 30 tháng 9 năm 2007, Game Boy Advance đã bán được 80,48 triệu máy trên toàn cầu, trong đó có 42,82 triệu là máy Game Boy Advance SP.

Technical specifications

null

- Kích thước : khoảng 3.2 x 5.69 x 0.97 inch(25mm)
- Trọng lượng : khoảng 140 gram(5 ounce)
- Màn hình : LCD thin-film transistor (TFT) 2,9 inch
- Pin : 2 pin AA
- Dung lượng pin : trung bình là khoảng 15h khi đang chơi game của Game Boy Advance (còn phụ thuộc vào Game Pak và âm lượng)
- CPU : 16Mhz 32-bit ARM7TDMI với bộ nhớ tích hợp
- Bộ nhớ: 32 kilobyte + 96 kilobyte VRAM (bộ nhớ trong CPU), 256 kilobyte WRAM (bộ nhớ ngoài CPU)
- Độ phân giải : 240 x 160 pixels
- Màu sắc hiển thị : 15-bit RGB (16-bit color), với khả năng hiển thị cùng lúc 512 màu trong “character mode” và 32,768 màu cùng lúc trong “bitmap mode”.
- Tương thích ngược cho game cho Game Boy và Game Boy Color, nhờ một con chip phụ 8.4 MHz Z8; một cổng sau máy mang khả năng kết nối tới các thiết bị khác thông qua Nintendo Game Link cable hoặc GameCube cable.

nullnullnull

Games

- Games có đầy. Máy Chơi Game Boy chơi được hơn 1200 game của hệ máy Game Boy, Game Boy Color và Game Boy Advance. Hãy mang ra những game ưa thích của bạn và ngắm nhìn đồ họa tuyệt vời và lắng nghe toàn bộ những âm thanh tuyệt sắc phát ra từ chiếc GBA “sát thủ” nhà bạn.

- Loại 1. Băng Game Boy : chạy được trên máy Game Boy Advance, Game Boy Color, Game Boy, Game Boy Pocket.
- Loại 2. Băng đôi Game Boy : chạy được trên máy Game Boy Advance, Game Boy Color, Game Boy, Game Boy Pocket.
- Loại 3. Băng Game Boy màu(dùng hơn 56 màu) : chạy được trên máy Game Boy Advance, Game Boy Color.
- Loại 4. Băng Game Boy màu đặc biệt(dùng hơn 32 ngàn màu) : chạy được trên máy Game Boy Advance.

null

- Với loại 1, 2 và 3, màn hình sẽ là hình vuông.(Bạn có thể dùng nút L và R để chuyển đổi màn hình sang dạng hình chữ nhật)
- Với loại 4, màn hình sẽ là hình chữ nhật.

- Chú ý : một số game cũ của Game Boy có thể không tích hợp lắm với máy GBA SP, gây ra một số vấn đề về âm thanh/hình ảnh.

- Có 12 nền màu có thể sử dụng được với băng game Game Boy.
Bật máy lên với băng Game Boy, khi logo Game Boy hiện ra, hãy nhấn tổ hợp nút để chuyển đổi màu nền.

Accessories

null

- Wireless Adapter: Phát hành vào năm 2004, chiếc adapter này gắn vào phần lưng của GBA. Nó được dùng thay thế cho dây cáp nối GBA. Giá chính thức trên thị trường là 20$US và đi kèm với Pokémon FireRed & Pokémon LeafGreen. Bởi vì xuất hiện quá trễ, nên chỉ có dưới 20 game có thể sử dụng phụ kiện này. Sự vô dụng của chiếc adapter đã thể hiện rõ qua Pokémon; ireRed/LeafGreen & Emerald có một “Union Room” trong đó 40 người có thể tranh tài hoặc trao đổi Pokémon. Phiên bản Game Boy Micro cũng tích hợp được với cả hai loại Wireless Adapter.

null

- e-Reader: một thiết bị khá lớn với tính năng scan, cắm vào khe cắm băng của Game Boy Advance. Thiết bị dùng để đọc thông số các thẻ có in chữ số dọc theo thân. Rất nhiều ý tưởng đã nảy sinh cho e-Reader ví như scan những game cổ điển Donkey Kong & Excitebike vào trong máy để chơi, hay với Super Mario Advance 4 & Pokémon Ruby and Sapphire để mở ra các bí mật. Game Nintendo GameCube như Animal Crossing có những chiếc thẻ như thế để mở ra các bí mật, và thẻ game Pokémon Trading Card cũng nhận dạng được bởi e-Reader. e-Reader tích hợp với Game Boy Player & Game Boy Advance SP, không cắm được vào slot 2 của Nintendo DS(tuy vậy lại cắm vừa slot 2 của Nintendo DS Lite). Các cửa hàng ở Mĩ không còn bán e-Reader nữa và không có thẻ mới nào được phát hành thêm cho thiết bị này, dù rằng Nintendo vẫn đang tiếp tục sản xuất và bày bán nó tại Online Store. Thiết bị rất được ưa chuộng ở Nhật. Phụ kiện này không được phát hành tại Châu Âu.

null

- Game Boy Advance Video: Các băng này chứa hai tập phim hoạt hình 30 phút. Được phát hành lần đầu ở Bắc Mĩ vào tháng 5 năm 2004, chúng có giá $19.99 US và bao gồm những phim hoạt hình như Pokémon, SpongeBob SquarePants, Sonic X, và Teenage Mutant Ninja Turtles. Các phim Shrek, Shrek 2, và Shark Tale đều đã có mặt đầy đủ trên Game Boy Advance Video. Vì lí do kích thước màn hình, cả ba phim trên đều đã ra mắt ở định dạng widescreen. Các băng này lại báo lỗi khi được cắm vào GameCube thông qua Game Boy Player. Các băng Game Boy Advance Videos này đã không còn được bày bán trên hầu hết các cửa hàng.

null

- Cleaning cartridge: một băng màu trắng chứa các vật liệu vải mềm bên trong để làm sạch khe cắm băng Game Boy Advance. Thiết bị này cũng được dùng để làm sạch Slot 2 của Nintendo DS.

null

- Afterburner: một hệ thống đèn màn hình tích hợp. Quá trình cài đặt yêu cầu việc mở GBA ra, loại bỏ một số phần nhựa cứng bên trong nắp máy, gắn phụ kiện vào màn hình, và hàn hai dây dẫn vào trong mạch chủ nguồn điện. Có thể gắn thêm vào một resistor hoặc một IC để người sử dụng có thể chỉnh sửa độ sáng của đèn. Khi Game Boy Advance SP được phát hành, nó đã đi cùng với một hệ thống đèn màn hình cũng tương tự như hệ đèn này.

null

- Halo Light: đây là một hệ thống đèn màn hình nối bên ngoài máy, thay thế cho màn nhựa bảo vệ màn hình của GBA. Halo Light đi kèm với một adapter cấp nguồn thông qua cổng nối, có thể bật/tắt được bằng công tắc và kết nối thông qua một cổng kết nối khác, để các thiết bị khác có thể kết nối được vào cổng chính của máy.

nullnull

- GBA Movie Player: là một băng game linh hoạt cho phép người sử dụng chơi được game NES/Famicom, nghe nhạc, xem phim, đọc file .txt,.v.v…. Chiếc GBA Movie Player này thực ra không đọc thẳng MPEGS/MP3s được mà phải thông qua một phần mềm chuyển đổi định dạng, chuyển các file thành định dạng GBM & GBS để thiết bị có thể đọc được. Có hai loại GBA Movie Player trong đó một loại sử dụng thẻ CF (CompactFlash) và lại còn lại sử dụng thẻ SD (SecureDigital), dù rằng nhiều hãng khác nhau sản xuất ra các phiên bản khác nhau của chiếc GBA Movie Player.

null

- GBA TV Tuner: thiết bị biến hệ máy cầm tay GBA trở thành một chiếc TV cầm tay. Do nhiều hãng sản xuất nên thiết bị có những phiên bản khác nhau. Chiếc TV Tuner được ưa chuộng nhất đòi hỏi phải có một chiếc băng cắm trong thiết bị để khởi động. TV Tuners có thể chứa đến 99 kênh.

- Game Shark: phiên bản dành cho Game Boy Advance của Game Shark. Vì lí do được lập trình để vừa tích hợp với game Game Boy Advance vừa đọc được các băng Game Boy Color đã khiến giá của thiết bị ở mức khá cao. Thiết bị cheat này cho phép người sử dụng hack các game. Mã số cheat được nhập vào bởi chính người sử dụng hoặc được upload vào trong thiết bị thông qua cable USB và software.

null

- Action Replay: Một thiết bị cheat game giống như Game Shark, được bày bán chủ yếu ở Châu Âu. Có một vài điểm nổi bật cùng giao diện update.

- Action Replay MAX Duo: Phụ kiện này là một phiên bản mới hơn của Action Replay dành cho Game Boy Advance. Thiết bị không chỉ tích hợp với Game Boy Advance, mà còn với DS, có thể lưu lại save game cùng các “powersaves” download được từ các trang web Action Replay. Tuy nhiên thiết bị không cheat được game cho Nintendo DS, mà chỉ có thể dùng như một thiết bị lưu trữ dữ liệu.

null

- Worm Cam: được phát triển bởi Nyko, một hãng chuyên phát triển các loại phụ kiện, thiết bị được gắn vào phần trên của Game Boy Advance và kết nối thông qua cổng chính của máy. Thiết bị hoạt động tương tự như một máy ảnh kĩ thuật số, các bức ảnh chụp được có thể đưa lên PC thông qua cổng USB. Hình dáng kì lạ của chiếc máy ảnh này đã không cho phép nó được sử dụng với GBA SP.

- DigiCam SP: chiếc camera này cũng đã được phát triển bởi Nyko và đã đóng vai trò là chiếc Worm Cam dành cho Game Boy Advance SP. Phụ kiện được gắn vào phần trên của GBA SP phía sau màn hình và kết nối với máy thông qua cổng chính.

Gameboy Player

null

- Máy Chơi Game Boy cho phép bạn chơi hơn 1,200 game của Game Boy, Game Boy Color và Game Boy Advance trên TV thông qua máy Nintendo GameCube. Kết nối GBP nằm ở dưới máy Nintendo GameCube cho phép người chơi sử dụng tay chơi game hoặc Game Boy Advance để chơi game.

- Thiết lập có lẽ không thể nào dễ dàng hơn thế. Máy Chơi Game Boy vừa khít vào phần đáy của GCN, chỉ nâng chiều cao của máy thêm 1 inch mà thôi. Bỏ đĩa hệ thống của Máy Chơi Game Boy vào máy GCN và gắn Máy Chơi Game Boy vào phần đáy của GCN thông qua Cổng kết nối tốc độ cao. Đừng lo lắng nếu bạn đang cắm GCN Modem hoặc Adapter Băng thông rộng, chúng sẽ làm việc tốt.

Multiplayer Action

- Chơi game đơn hẳn là vui, nhưng chơi game nhiều người là khi mọi thứ trở nên nóng bỏng! Cứ thử hình dung ra Máy Chơi Game Boy của bạn là “một máy Game Boy” và bạn sẽ hiểu ra. Máy GBP có thể kết nối tới các hệ máy trong dòng máy Game Boy(trừ Game Boy micro) với dây cáp tương ứng dùng kết nối ngoài EEC(External Extension Connector) trên mặt trước Máy Chơi Game Boy. Xem sơ đồ để tìm hiểu cách kết nối từ hai đến bốn người với nhau.

null


________________________________________________________

null

null

- Game Boy Advance SP (phát âm chuẩn tiếng Nhật là Gēmu Bōi Adobansu Esupī), phát hành vào tháng 2 năm 2003, là phiên bản đã được hiệu chỉnh của Game Boy Advance. Từ “SP” có ý nghĩa Special. SP có giá $99.99 US vào ngày phát hành. Vào tháng 9 năm 2004, Nintendo đã giảm giá bán xuống còn $79.99 US.

- Tại Nhật, giá bán của hệ máy là 12,500¥ (Yen) vào ngày 14 tháng 2 năm 2003. Tại Canada, hệ máy được bán với giá $149.95 CA (Canadian Dollar) vào ngày 22 tháng 3 năm 2003. Tại Úc, hệ máy được bán với giá $199.99 AU vào ngày 28 tháng 3 năm 2003. Tại Châu Âu, hệ máy có giá €129.99, ra mắt vào ngày 28 tháng 3 năm 2003.

- Vào ngày 30 tháng 9 năm 2007, Game Boy Advance đã bán được 80,48 triệu máy trên toàn thế giới, trong đó có 42,82 triệu máy là Game Boy Advance SP.

Technical specifications

null

- Kích thước(gập máy lại): khoảng 8.4 × 8.2 × 2.44 cm (3.3 × 3.23 × 0.96 inch)
- Trọng lượng: 142 gram
- Màn hình: LCD màu TFT phản chiếu
- Nguồn sáng: đèn màn hình tích hợp LCD
- Pin: pin sạc lithium ion
- Dung lượng pin: 10 giờ chơi liên tiếp bật đèn, 18 giờ không bật đèn, cần 3 tiếng sạc pin.

null

- GBA SP có kích thước lớn hơn một nửa GBA một chút khi gập máy lại và bằng với Game Boy Color khi mở ra. Kiểu dáng gập bảo vệ màn hình máy tránh khỏi va chạm và bụi bẩn, tương tự như chiếc máy hai màn hình Game & Watch. Tuy nhiên, vỏ máy lại được làm từ nguyên liệu khác so với các máy Game Boy khác, nên dễ bị xước hơn.

null

 

- GBA SP AC adapter đi kèm với thùng máy dùng để sạc pin lithium ion, là thứ mà những máy Game Boy trước chưa từng có được.
- Cắm adapter vào máy GBA SP. Nhớ tránh việc cắm nhầm để tránh đầu cắm bị hư hại.
- Bật đầu cắm điện trên adapter lên và cắm vào ổ cắm điện. Đèn báo sạc pin trên máy GBA SP sẽ sáng lên màu vàng. Đèn này sẽ tắt khi pin đã hoàn toàn được sạc xong.
- Khi đã sạc xong, rút adapter ra khỏi nguồn điện trước rồi mới hãy rút đầu cắm sạc ra khỏi máy GBA SP. Trong khi rút các đầu cắm, nhớ cẩn thận nhẹ tay tránh làm các đầu cắm bị mòn hoặc hư hại.

null

- Máy Game Boy Advance SP sử dụng một Pin sạc lithium ion. Việc pin chảy nước chứa các thành phần bên trong pin việc đốt cháy chúng, có thể gây ra tổn hại cho cả người chơi game lẫn máy Game Boy của bạn. Nếu pin có chảy nước thì tránh chạm vào. Nếu có chạm đến nước, ngay lập tức rửa sạch bằng nước xà phòng. Nếu nước chạm đến mắt, ngay lập tức rửa nước và đưa đi cấp cứu.
- Để tránh việc pin bị chảy nước :

+ Không nên để pin bị đập hoặc rung mạnh.
+ không nên mở ra, với ý định sửa chữa hoặc chế tạo lại pin.
+ Không nên để pin gần lửa.
+ Không chạm đến các cực của pin hoặc gây ra hiện tượng đoản mạch.
Không được gỡ pin sạc trong máy Game Boy Advance SP ra trừ khi pin thực sự cần thiết được thay.
+ Không được sử dụng bất kì loại pin nào khác ngoài pin sạc của máy Game Boy Advance SP. Một cục pin thay thế. Khi sạc lại pin, chỉ sử dụng cục sạc dành cho máy Game Boy Advance đi cùng với hệ máy này.

null

- Tại Bắc Mĩ vào tháng 9 năm 2005, vào khoảng thời gian Game Boy Micro xuất hiện, Nintendo cho ra mắt một phiên bản cải tiến của Game Boy Advance SP mang một đèn tích hợp màn hình thay vì phiên bản đèn màn hình phía trước tiền nhiệm. Độ sáng có thể điều chỉnh từ thấp đến cao. Thùng hàng có ghi : “Giờ thì đi cùng một màn hình tích hợp đèn SÁNG HƠN nhé!” để phân biệt phiên bản mới với phiên bản cũ. Thêm vào đó, phiên bản SP mới còn có đặc trưng là dòng chữ AGS-101 ở dưới máy.

- Tại Nhật hệ máy đã được phát hành với nhiều màu và thùng máy đặc biệt khác nhau. Ở hầu hết các nước khác hệ máy đã ra mắt trong màu bạch kim, và than đen. Sau đó phiên bản Lửa Đỏ xuất hiện. Sáu phiên bản đặc biệt cũng đã được phát hành : NES cổ điển, với màu sắc tương tự như một tay cầm NES (và thiết kế trông giống như một máy NES khi gập máy lại), một mẫu SpongeBob SquarePants, một kiểu Pikachu, và một kiểu SP bạc có hình xăm trên vỏ máy, được gọi ‘Tribal Edition’. Ở các nước khác, như Châu Âu, Châu Á, và Trung Đông, những màu khác cũng đã ra mắt, như Xanh Ngọc và Sao Vàng. Thêm vào đó, hai phiên bản đặc biệt nữa cũng xuất hiện tại Châu Á, tạo ra sự riêng biệt thú vị.

null

-CPU: 32-bit ARM7TDMI bộ nhớ tích hợp
-Memory: 32 kibibyte+96 kibibyte VRAM (internal CPU), 256 kibibyte WRAM (external CPU)
-Độ phân giải: 240 × 160 pixels
-Màu sắc: màn hình có thể hiển thị đồng thời 511 màu cùng lúc trong character mode và cùng lúc 32,768 màu trong bitmap mode
-Software: Tích hợp hoàn toàn với game Game Boy & Game Boy Color

Jack headphone

null

- Vì lí do hạn chế về hình dáng, Nintendo đã lược bớt lỗ cắm headphone, đã xuất hiện trên toàn bộ các hệ máy Game Boy trước. Headphone thiết kế dành riêng cho GBA SP xuất hiện, đồng thời headphone thông thường cũng có thể cắm vào một adapter trung gian cắm vào lỗ cắm adapter AC.
- Vì cả hai adapter nói trên đều sử dụng một lỗ cắm, người sử dụng không thể vừa dùng headphone thông thường vừa sạc pin. Từ đó nảy sinh ra sáng kiến của hãng thứ ba, một adapter chia ra làm hai bên, sạc pin một bên và headphone thông thường một bên.
- Hãng Majesco còn phát triển ra loại headphone gài áo có khả năng dùng được khi cắm thẳng vào lỗ cắm mà không cần đến adapter.

null


________________________________________________________

null


null

- Game Boy Micro (phát âm chuẩn tiếng Nhật Gēmu Bōi Mikuro) là một hệ máy chơi game cầm tay được phát triển và sản xuất bởi Nintendo. Hệ máy chính là phiên bản thiết kế chính lần hai của Game Boy Advance, và được thiết kế lại nhắm vào “thị hiếu” của người tiêu dùng, với kích thước thu gọn và kiểu dáng thanh lịch. Theo lời Perrin Kaplan từ Nintendo of America, tên mã dành cho hệ máy trong quá trình phát triển là Oxygen. Hệ máy còn có một cái tên mã khác “OXY-001″ in trên mặt sau.

null

- Game Boy Micro đã chính thức được thông báo bởi phó quản lí kế toán và thị trường Nintendo of America, Reggie Fils-Aime, tại hội chợ E3 ngày 17 tháng 5 năm 2005. Hệ máy đã được phát hành tại Nhật vào ngày 13 tháng 9 năm 2005 và tại Bắc Mĩ vào ngày 19 tháng 9 năm 2005. Sau đó hệ máy được phát hành tại Châu Âu vào ngày 4 tháng 11 năm 2005 và tại Úc là vào ngày 3 tháng 11 năm 2005. Hệ máy cũng đã được phát hành tại Trung Quốc với cái tên “iQue Game Boy Micro” vào ngày 1 tháng 10 năm 2005. Và còn được phát hành tại Hàn Quốc, hệ máy ra mắt ngày 9 tháng 11 năm 2005.

null

- Game Boy Micro đã bán được hơn 170.000 máy trong ngày đầu tiên phát hành tại Nhật.
- Lần phát hành tại Bắc Mĩ đã nhận được một số lời chỉ trích, và vào ngày phát hành chính thức 19 tháng 9 năm 2005, nhiều cửa hàng đã không đặt mua hàng, trì hoãn cho đến tận ngày 26 tháng 9 năm 2005 hay ngày 30.
- Theo như báo cáo doanh thu của Nintendo, 2,42 triệu máy Game Boy Micro đã bán được trên toàn thế giới vào ngày 31 tháng 3 nắm 2007, bao gồm cả 610.000 máy tại Nhật, 950.000 máy tại Mĩ, vào 870.000 máy tại những nơi khác như Châu Âu và Úc.
- Vào ngày 30 tháng 7 năm 2007, GamePro.com đã xếp Game Boy Micro đứng thứ 8 trong danh sách “10 handheld bán được ít nhất mọi thời đại”
- Vào ngày 30 tháng 7 năm 2007, Game Boy Micro đã bán được 2,5 triệu máy.

Design & Specifications

null

- Game Boy Micro thừa hưởng một số đặc tính của Game Boy Advance SP, nhưng mất đi khả năng đọc được game Game Boy & Game Boy Color, chính thức tích hợp với eReader và một số phụ kiện khác, nhưng thông qua một phiên bản cập nhật. Hệ máy có kích thước nhỏ hơn những hệ máy Game Boy tiền nhiệm. So với iPod mini, hệ máy có to hơn một chút và bằng 2/3 trọng lượng. Thêm vào đó, hệ máy được trang bị một đèn màn hình cho phép điều chỉnh độ sáng. Hình dáng của hệ máy được thiết kế theo hình thuôn đơn giản - tương tự như một chiếc tay cầm của hệ máy NES.

null

- Game Boy Micro có phần nhựa phía trước có thể gỡ ra được, cho phép người sử dụng thay đổi màu sắc tùy ý.

null

- Kích thước: 50×101×17.2 millimet (2×4×0.7 in), gần bằng kích thước một chiếc thẻ tín dụng
- Trọng lượng: 80 gram (2.8 ounce), gần bằng trọng lượng của 80 cái kẹp giấy
- Bộ xử lí: 32-bit 16.8-MHz ARM processor (ARM7TDMI)
- Màu sắc: tùy biến
- Màn hình: 51 mm / 2 inch (so với GBA là 74 mm / 2.9 in.), đèn màn hình có thể chỉnh độ sáng. Theo thông báo dành cho Game Boy Micro, thì đây là “màn hình Game Boy tốt nhất”
- Độ phân giải: 240×160 pixels
- Nút bấm: Game Boy Micro có các đường nhỏ trên D-pad, có lẽ là để phù hợp gameplay, tương tự như DS Lite & Wii.
- Pin: pin lithium-ion sạc tích hợp, dung lượng 5 tiếng khi dùng máy với độ sáng cao nhất cùng âm thanh, 8 tiếng nếu là để ở chế độ default
- Headphone: Tích hợp các loại headphone thông dụng mà không cần phụ kiện khác.

null

- Game Boy Micro còn có thêm một nút chỉnh hai chiều ở biên phải dùng để điều chỉnh âm lượng. Giữ nút L thì nút chỉnh biên này sẽ được dùng để điều chỉnh độ sáng.

null

- Để cạnh tranh với hệ máy tiêu điểm của thị trường (iPod), Nintendo đã thiết kế lại chiếc adapter Play-Yan để nó có thể tích hợp tốt hơn với Game Boy Micro. Thiết bị này có thể chơi MP3 và video kĩ thuật số với thẻ SD.

null

- Play-Yan: một thiết bị nghe nhạc MP3/MPEG4 dành cho Game Boy Advance & Nintendo DS. Chiếc băng có hơi to hơn một chút so với các băng game thông thường, mang một lỗ cắm headphone và một khe cắm SD card. Nhạc và video sẽ nằm trong chiếc

In bản tin Gửi bài tới bạn bè 
Mạng chia sẻ tin tức
Giỏ hàng

Giỏ hàng trống
Tin từ xGAME
Địa chỉ:
        Số 270 Bà Triệu, Hà Nội.
 
Tel: (04) 39741190
 
Hotline:
        098.2345827 (Mr.Thái)
        098.3159353 (Mr.Dũng)
Thời gian làm việc:
        9h00 - 20h00
        Chủ nhật 9h30-20h30.
        (Nghỉ trưa 13h-14h)
 H/thức thanh toán:
tại đây
Tin xã hội
----*----
Game sắp phát hành
Sản phẩm bán chạy
Sản phẩm secondhand